la san hoi ngo 5

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức LASAN

Bút ký của một cựu HS Lasan BMT Về thăm trường củ

Thứ bảy - 30/06/2012 20:32
Bút ký của một cựu HS Lasan BMT Về thăm trường củ

Bút ký của một cựu HS Lasan BMT Về thăm trường củ










Bút ký của một cựu HS Lasan BMT
Về thăm trường củ

Bút ký Sapy Nguyễn Văn Hưởng & Sapy Đi Đi

Kể từ niên khóa 1964 - 1965, Lasan Ban Mê Thuột chính thức dời về ngôi trường mới rộng ra, khang trang, nằm bên lưng chừng đồi. Chung quanh trường được bao bọc bằng những vườn cà phê, vườn bắp xanh ngát. Muốn lên trường phải đi qua cái cổng chính sát quốc lộ 14, rồi leo thêm con dốc thẳng dài trên 100 thước nữa là vào đến sân trường. "Lasan Đồi", một cái tên thân thương chẳng biết phát xuất từ đâu, được gọi để phân biệt với ngôi trường Lasan củ nằm ngay trung tâm thành phố. Với lối kiến trúc có thể xem là tân kỳ nhất vào thời buổi đó tại Ban Mê Thuột, đã mang lại cho chúng tôi một niềm hảnh diện về ngôi trường mình.
Niên khóa đầu tiên được khai giảng khi việc xây dựng trường ốc vẫn chưa hoàn tất. Ngồi trong lớp, tôi còn ngửi được mùi vôi quyện với mùi gỗ của bàn ghế mới. Lasan Đồi mở ra đã đánh dấu một sự vươn mạnh của nền giáo dục Lasan trên mảnh đất Ban Mê Thuột. Nhà trường bắt đầu thâu nhận học sinh lớp Đệ Tam (Lớp 10) và tôi là một trong những học sinh tiên khởi học lớp "cao cấp" nhất của trường. Điều này đã giúp tôi cùng các bạn trong lớp sớm trưởng thành để xứng đáng là đàn anh của trường. Trong niên học đầu tiên này, chỉ có tôi và Đinh Thanh Long là 2 học sinh từ Mỹ Tho lên, còn lại đều là học sinh củ của Lasan Ban Mê Thuột. Vì thế Long - Hưởng trở thành "cặp bài trùng" để bạn bè "kỳ thị" và nhắc nhớ đến nhiều nhất.



Tuy trường cách xa trung tâm thành phố chỉ hơn 3 cây số, nhưng thật diệu vợi đối với các học sinh nghèo đến trường bằng đôi chân hay chiếc xe đạp. Họ phải vượt qua bao dốc đồi, bao con đường lầy lội của cái xứ "nắng bụi mưa sình".
Sang niên Khóa 1965 - 1966, bầu không khí lớp Đệ Nhị (Lớp 11) chúng tôi trầm hẳn xuống, bởi cuộc chiến ngày càng lan rộng. Nỗi ưu tư lo lắng về thân phận, về tương lai đã cướp đi cái hồn nhiên của tuổi học trò. Mỗi chúng tôi, ai củng hiểu rằng, đây là năm học quan trọng nhất của đời học sinh, bởi cuối niên học có cuộc thi Tú Tài I. Nếu thi đỗ sẽ được hoản dịch để tiếp tục học hành . Còn chẳng may thi trượt, cái buồn phải ở lại lớp không to lớn bằng việc xin hoản dịch sẽ gặp khó khăn, nếu là học sinh lớn tuổi thì phải lên đường nhập ngũ.


Hè năm 1966, học xong lớp Đệ Nhị, tôi bùi ngùi giã từ Ban Mê Thuột trở về Mỹ Tho. Lòng tôi buồn rười rượi lúc rời xa mái trường cùng bạn bè thân thiết vì Lasan Đồi vẩn chưa mở lớp Đệ Nhất, lớp cuối cùng của bậc Trung Học. Bây giờ, sau hơn 38 năm từ giã ngôi trường, tôi mới nhận ra là chuyến đi hôm ấy tôi đã vĩnh viển xa rời: Nguyễn Văn Nghĩa, Lý Hồng Điệp, Đào Đản, Nguyễn Văn Ty và gần đây tôi phải tiển biệt thêm Trần Văn Kỳ, Huỳnh Văn A.
Nền giáo dục Lasan tại Việt Nam sau 30-4. Tất cả các tu sinh, sư huynh phải rời tu viện, trường học. Mọi cơ sở giáo dục được Nhà Nước tiếp quản. May thay tinh thần và lý tưởng Lasan vẩn được các sư huynh nuôi dưỡng. Cho nên tuy trường xưa đã mất nhưng thầy củ vẩn còn, để tôi có nơi quay về thăm viếng.
Hỏi qua các frère, tôi có được địa chỉ thầy Nguyễn Thái Đình. Thầy Đình chỉ thay thế thầy Cao Thế Dung dạy lớp tôi học vài giờ Việt Văn, những kỷ niệm lưu giữ trong tôi về thầy chính là thời gian thầy giám thị học sinh nội trú. Gặp lại thầy, tôi nhìn thấy rỏ sự tàn phá của một "cuộc đổi đời". Tuy mới ngoài 60 mà trông thầy như một ông cụ. Sự đổi thay dáng vẻ bên ngoài phát sinh từ những xáo trộn sâu kín bên trong. Thầy bảo tôi, thầy không tham dự các buổi họp mặt củng như lễ lạt liên quan đến mái trường xưa. Ngay như thư từ của học trò, bạn hữu gởi từ Mỹ về thầy củng đem đốt hết. Tôi không đủ thời gian truy tìm nguyên nhân và củng không muốn khơi dậy những vết thương trong lòng thầy, nên tôi chỉ ngồi lặng thinh nhiều hơn nói. Tôi thấy thương thầy quá đổi. Cuộc sống vật chất gia đình thầy củng tạm đủ vì con cái đã lớn khôn lại có công ăn việc làm tốt. Tôi thương là thương cho cái tinh thần thầy bị thương tổn trầm trọng. Đến với thầy Đình tôi mong tìm một người đồng hành quay về quá khứ. Nhưng thấy tinh thần thầy như vậy, tôi đành để chuyện quá khứ ngủ yên trong lòng thầy. Tiển tôi ra về, thầy báo cho biết, tôi chẳng còn một bạn học củ nào sống nơi Ban Mê Thuột này, khiến tôi cảm thấy chương trình trở lại Ban Mê Thuột 2 ngày thăm trường xưa, thầy bạn củ nó dài lê thê làm sao ấy.
Tôi thuê xe ôm đi thăm lại trường xưa. Anh lái xe, một người đứng tuổi, là cư dân sống lâu đời nơi đây, cho nên anh giúp tôi nhìn thấu quá khứ để dễ dàng so sánh với hiện tại. Anh chia sẻ sự mất mát ngôi trường in đậm trong tâm trí tôi bằng câu nói như tiếng thở dài:
- Lasan Đồi bây giờ đã trở thành trường Cao Đẳng Sư Phạm!
Tôi ngậm ngùi:
- Tôi đã biết điều này. Không chỉ có thầy trò Lasan Ban Mê Thuột không trường không lớp, mà toàn thể hệ thống giáo dục Lasan trong nước đều không còn nữa. Nhưng tinh thần Lasan luôn sống mãi trong tôi và trong các cựu học sinh cùng tất cả mọi người có liên quan với Lasan.
Xe gần đến trường anh lại bảo tôi:
- Tôi không chắc nhân viên bảo vệ cho anh vào thăm trường!
- Không cho đến gần thì tôi đứng từ xa. Không ai có thể ngăn cản "tầm nhìn" và "hướng nhìn" của tôi được.
Trước khi rời con lộ 14 rẻ lên trường, tôi bảo anh tài dừng xe cho tôi tìm lại hai căn nhà của hai chú tài chiếc Landrover và chiếc xe Car chuyên chở học sinh ngày xưa, cùng ngắm nhìn dòng nước con suối mà ngày trước học sinh nội trú chúng tôi được xuống ngâm mình mổi tuần một lần. Người xưa nhà củ không còn, chỉ mỗi con suối vẩn róc rách chảy, còn "dòng nước" thì ô uế hơn xưa.
Tôi lại ngậm ngùi thẩn thờ đưa mắt tìm dấu tích cái cổng trường, cái cổng xây bằng gạch vẩn luôn khắc sâu trong lòng tôi. Ngay chính giữa cổng, có một căn phòng nhỏ, phân chia đường lên trường thành hai lối, đó củng là nơi trú ngụ của hai cha con người gác cổng. Tôi muốn leo lên xe bảo anh tài chạy thật nhanh , nhưng chân lại lần bước leo con dốc, để cảm nhận sự nhọc nhằn của bạn bè tôi ngày trước, phải lên xuống con dốc này mổi ngày 4 lượt.
Rồi lòng tôi bồi hồi xúc động khi ngôi trường củ hiện ra trước mắt. Cảnh quan đã khác xưa, nhiều dãy lầu được xây dựng thêm, nhưng những gì tôi muốn nhìn ngắm vẩn còn nguyên đấy.
Ngang qua lớp Đệ Tam tôi học ngày nào, tôi không muốn tiến sát lại để nhìn sâu vào bên trong, bởi tôi biết rằng, căn phòng ấy chỉ giữ lại cho tôi cái khoảng không, còn bàn ghế khi xưa chắc chẳng còn gì. Làm thế nào họ có thể giữ được nguyên vẹn 30 cái bàn cái ghế to, đẹp và rộng như bàn thầy giáo mà có một thời chúng tôi ngồi học trên đó. Tôi củng nhận ra lớp học Đệ Nhị, rồi cả những nơi chúng tôi đứng chụp chung mấy tấm ảnh, ảnh xưa tôi vẩn giữ, còn thầy bạn tôi giờ đây kẻ còn người mất, mỗi người lưu lạc mỗi nơi. Trước lúc rời trường, tôi cố xóa đi những hình ảnh dư thừa của ngôi trường "Cao Đẳng Sư Phạm" để trong trí tôi còn nguyên vẹn một "Lasan Đồi".
Qua ngày thứ hai, tức ngày cuối cùng của chuyến về thăm Ban Mê Thuột, mãi đến 3 giờ chiều, chúng tôi mới phải ra phi trường. Tôi chẳng còn một bạn hữu nào để thăm viếng, một người quen biết nào để hàn huyên, khiến thành phố trở nên xa lạ trong tôi. Đang suy tính phải làm g? cho mau hết cái thời gian dài lê thê ấy, chợt chuông điện thoại reo vang. Frère Kiều Duy Sơn, người tìm giúp tôi cái địa chỉ nhà thầy Nguyễn Thái Đình rủ vợ chồng tôi đi thăm vườn Lan cùng với frère Đoàn Gia Hàm. Thế là cái buồn nản rủ áo ra đi nhường chổ cho niềm vui sắp tới, bởi lan là loài hoa mà cả hai vợ chồng tôi đều ưa thích.
Trong lúc vợ chồng tôi ngắm nhìn và chụp ảnh mấy cành lan xinh đẹp thì anh Kiếm, một cựu học sinh Lasan Đồi bồng nhiên xuất hiện. Kiếm học dưới tôi một hai lớp, sống nơi "Bụi Mù Trời" và "Buồn Muôn Thủa" này từ ngày còn tấm bé. Trong lòng Kiếm như ẩn dấu cả một "thư viện" kỷ niệm về Lasan Ban Mê Thuột. Chuyện trò với Kiếm khiến tôi nghiệm ra rằng sắc thắm các loài lan hôm ấy bị "sắc màu" cái tình thầy trò Lasan che khuất. Cái tình đã bị biết bao sóng gió của đất nước, của cuộc đời vùi dập, vụt sáng hẳn lên trong lòng tôi. Kiếm đưa tôi quay về thực tại:
- Anh có nhớ Nguyễn Văn Nhơn không?
Tôi đáp vội:
- Nhớ chớ sao không! 2 năm sống trên này, mỗi lớp tôi học chỉ có hơn 20 học sinh, nên khó mà quên nhau được.
Thế là Kiếm chở tôi lại nhà Nhơn sau buổi viếng vườn lan.
Ngày còn học nơi đây, tôi là một thiếu niên cao gầy, nay cân nặng gần 80 ký, sự đổi thay quá nhiều nơi tôi cộng với gần 40 năm xa cách thì làm sao Nhơn nhận ra tôi cho được. Riêng tôi nhờ nghĩ về Nhơn ngay từ khi Kiếm nhắc đến tên, nên lúc mặt đối mặt tôi nhận ra Nhơn ngay. Nhìn tôi và Nhơn tay bắt mặt mừng, Kiếm chào từ giã, để tôi và Nhơn ngồi ôn lại chuyện xưa. Nhơn kể tôi nghe về những ngày tháng long đong lận đận, mãi cho đến mấy năm gần đây, vợ chồng Nhơn tạo dựng được một cửa hàng buôn bán tạp hóa và cuộc sống gia đình bắt đầu ổn định. Trông Nhơn khỏe mạnh, trẻ trung, yêu đời, tôi mừng thầm cho bạn. Câu chuyện đang rộn ràng, bất chợt Nhơn hỏi tôi:
- Bạn còn nhớ Thái Hữu Dị không?
- Nhớ chớ sao không? Dị dáng người cao ráo, đẹp trai, hiền hậu, miệng luôn tươi cười vẩn còn nằm như in trong đầu tôi và trong mấy tấm ảnh chụp chung mà tôi còn giữ cho đến giờ.
Chờ tôi nói dứt câu, Nhơn nói tiếp mấy điều muốn giải bày:
- Dị sinh sống tại Hà Lan, nó đi lính và bị thương liệt nửa thân người, còn vợ Dị mới qua đời hơn một năm nay.
Nghe Nhơn nói tôi tiếc rẻ:
- Tháng Tư năm nay tôi có đi Hà Lan chơi mấy ngày, nếu biết Dị ở đó, tôi đã ghé thăm nó rồi.
Nói xong tôi ngồi trầm ngâm, nghĩ đến nỗi bất hạnh của Dị. Nhưng tôi củng mừng cho bạn được sống ở một nơi mà chính phủ luôn quan tâm đến người dân và nhất là có chính sách chăm lo chu đáo cho người tàn tật. Lúc tôi đứng lên từ biệt, Nhơn đập mạnh hai tay vào nhau nói nhanh:
- Chút nữa tôi quên, Nguyễn Hữu Bá củng ở trên con đường Y Jút này.
- Vậy bạn cho tôi địa chỉ để tôi đến thăm Bá.
- Tôi biết nhà chớ không nhớ số. Bạn sang cửa hiệu bán đồng hồ của cô con dâu Bá ở bên kia đường hỏi là biết ngay.
Qua đến tiệm, tôi gặp ngay cô con dâu Bá đang ngồi bán hàng. Đọc cho tôi số nhà xong, cô liền đề nghị:
- Hay để con điện cho ba con lại đón bác về nhà.
Nhìn đồng hồ thấy mới hơn 10 giờ, tôi bảo cháu:
- Cám ơn con. để bác tản bộ lại thăm ba được rồi.
Lúc đang đưa mắt tìm nhà, tôi bắt gặp ngay Bá đứng trước hàng hiên đón đợi tôi. Tay bắt mặt mừng nhận nhau xong là chuyện thầy xưa, bạn củ lại nổ như bắp rang trên môi miệng tôi và Bá. Khi Bá nhắc đến Thái Hữu Dị, tôi lập lại lời tiếc rẻ như lúc chuyện trò với Nhơn:
- Tháng Tư vừa rồi vợ chồng tôi làm một chuyến Âu du và có viếng Hà Lan. Tiếc là không biết Dị đang sinh sống tại đó.
Bá liền cười bảo tôi:
- Dị nó ở xa? Hà Lan cách Ban Mê Thuột khoảng 40 cây số chớ đâu phải ở nước Hà Lan bên trời Âu!
Nghe Bá nói, tôi quá đổi ngạc nhiên, liền đưa tay lên nhìn đồng hồ, thấy mới gần 11 giờ, tôi nhẩm tính nhanh trong đầu: với 40 cây số, đi về mất khoảng 2 tiếng xe, nếu đi ngay bây giờ, tôi còn cả một tiếng đồng hồ thăm hỏi Dị. Tôi liền đề nghị cùng Bá:
- Nếu không có gì bận rộn, bạn có thể cùng đi tìm Dị với tôi ngay bây giờ được không?
Nga?m nghĩ một lát Bá gật đầu nói:
- Tôi chỉ biết Dị ở Hà Lan thôi, vậy bạn ngồi đây chờ tôi chạy lại nhà Luyện hỏi địa chỉ rồi tụi mình cùng đi tìm thăm nó.
Tôi vội lên tiếng:
- Sao bạn không chở tôi đi luôn có tiện hơn không?
Thế là Bá lấy xe Honda chở tôi phóng nhanh đi tìm Luyện. Lúc đến nơi mới hay Luyện vắng nhà. Bá lên tiếng hỏi con trai Luyện:
- Con tìm cho bác cái danh sách cựu học sinh Lasan được không?
Vào trong buồng một lúc, con Luyện đem ra tờ giấy, cầm liếc đọc qua một lát, mặt Bá rạng rở lên bảo tôi:
- Có số điện thoại đây rồi, giờ quay lại nhà tôi gọi điện hỏi địa chỉ Dị xong là mình đi ngay.
Tôi liền đề nghị:
- Hay bạn cho tôi về khách sạn báo cho bà xã tôi biết, luôn tiện tôi gọi Taxi rồi lại đón bạn đi luôn.
Về đến khách sạn, tôi chạy vội lên phòng, hấp tấp kể sơ qua mọi chuyện cho nhà tôi nghe, bà liền nhanh nhẩu quyết định:
- Vậy mình xuống trả phòng ngay bây giờ, đi thăm anh Dị xong mình bảo xe chạy thẳng ra phi trường luôn.
Chúng tôi gom vội đồ đạc, gọi Taxi rồi rời khách sạn. Gặp Bá tôi liền đề nghị:
- Củng gần đến giờ ăn trưa rồi, hay mình ghé mua ít thức ăn đem đi cho đỡ mất thời giờ?
Bá lắc đầu:
- Tôi đã gọi được anh Du củng dân Lasan. Du sẽ đứng đón tụi mình trước cửa một nhà hàng để đưa đến nhà Dị. Vậy mình ăn uống luôn ở đấy cho tiện.
Tôi gật đầu đồng ý ngay, thế là đúng 11 giờ 30 trưa ngày 19-11-2004, Taxi đưa Bá cùng vợ chồng tôi rời Ban Mê Thuột trực chỉ Hà Lan. Ngồi trên xe Bá ôn lại cho vợ chồng tôi nghe nỗi gian truân của một người bạn thương tật.
Thái Hữu Dị sinh năm 1945 trong một gia đình nông dân nghèo, sinh sống nơi họ đạo Hà Lan. Bố mẹ phải khó khăn vất vả lắm mới lo nổi cho Dị ra Ban Mê Thuột nương nhờ bà con ăn học. "Cái khó bó cái khôn", vì thế sự thiếu thốn về vật chất ảnh hưởng nhiều đến việc học hành của Dị. Lại thêm phần kém may mắn, nên Dị thi không đỗ mảnh bằng Tú Tài I và phải lên đường nhập ngũ cuối năm 1966.
 Trong thời gian đi lính, Dị bị trúng một viên đạn vào ngay đốt thứ 8 tủy sống. Dị bị thương lúc 6 giờ chiều ở giữa rừng già, phải đợi trọn một ngày mới được trực thăng tản thương ra Tân Cảnh rồi đưa thẳng vào bệnh viện Pleiku. Bởi vết thương quá nặng, hai ngày sau, chuyển về Tổng Y Viện Cộng Hòa Sàigòn. Sau Tết Mậu Thân 1968, Dị được đưa ra Trung Tâm Tê Liệt Vũng Tàu tiếp tục điều trị và dưỡng thương. Viên đạn định mệnh trúng vào người đã khiến hai chân Dị bị teo lại, làm tê liệt hẳn nửa thân người. Từ lúc bị thương, Dị không còn kiểm soát được việc tiểu tiện. Mãi cho đến lúc giải phẩu xong bọng đái, Dị mới tìm lại được đôi chút cảm giác đã mất.
Như đã được "ơn trên" sửa soạn trước cho một cuộc đổi đời nghiệt ngã. Cuối năm 1969, cuộc sống Dị chuyển sang một khúc quanh mới: Dị làm quen được một thôn nữ thường hay vào Trung Tâm Tê Liệt thăm viếng thân nhân cùng an ủi các thương binh. Lâu dần tình yêu nẩy nở giữa hai người. Nhưng tưởng mối chân tình ấy sẽ bị gia đình cô gái cản ngăn. Ngờ đâu, nàng thôn nữ lại bị gia đình Dị nghi ngờ là muốn nhảy vào để hưởng nguồn tiền trợ cấp thương binh suốt đời của Dị. Sự nghi ngờ ấy không phải là vô căn cứ, bởi làm sao thân nhân Dị có thể tin là cuộc sống lứa đôi sẽ tốt đẹp vửng bền với một người bị liệt phân nửa phần dưới cơ thể. Dị xác quyết cùng mọi người: tuy mình bị mất đi cái cảm giác lúc yêu đương, nhưng sự đòi hỏi về xác thịt vẩn mảnh liệt như bao người đàn ông bình thường khác.
Đứng trước nghịch cảnh, cô gái vẩn đủ can đảm, nhất quyết giữ lấy tình yêu để được gần gủi, chăm sóc cho người mình yêu. Hôn lễ được âm thầm tổ chức dưới sự chứng kiến của anh em thương binh chung phòng. Quà cưới của họ chính là sự phản đối, lời nghi kỵ của bà con họ hàng bên gia đình Dị. Romeo và Juliet được xưng tụng là một cuộc tình đẹp, bởi hai người đã? chết bên nhau vì yêu. Ngược lại, Thái Hữu Dị và Nàng Thôn Nữ đã bất chấp mọi khó khăn, ngăn trở để được yêu và được sống bên nhau.
Đầu năm 1975, mối tình ấy đã được một linh mục Tuyên Úy, chuẩn bị cho hai người nói lời khấn hứa trước mặt Thiên Chúa sẽ sống trọn đời bên nhau. Nhưng trớ trêu thay, việc chưa thành thì Giải phóng 30-4. Cũng như mọi bao thương binh khác, Dị phải lập tức rời Trung Tâm Tê Liệt. Từ Vũng Tàu vợ chồng Dị dắt dìu nhau trở lại quê hương Hà Lan. Hơn 7 năm dài bị thương tật, lúc nào cũng có y tá, bác sĩ cận kề săn sóc chửa trị vết thương, có đồng lương trợ cấp. Giờ mọi thứ ấy cùng chấp cánh bay đi, thật không còn sự mất mát nào to lớn hơn đối với một thương binh như Dị. Người tình, người vợ trong giây phút đó chính là cái phao cho Dị ôm, để bám víu lấy cuộc đời.
Năm 1977, vợ Dị thọ thai. Cái thai mang đến cho gia đình nhỏ bé của Dị niềm hạnh phúc lớn lao. Nhưng nó lại càng gây thêm sự nghi kỵ về tấm lòng thủy chung nơi người vợ, cho người trong gia đình Dị cùng bà con lối xóm. Thời gian chính là viên thuốc để xoa dịu và chửa lành vết thương thể xác lẩn tinh thần cho vợ chồng Dị. Rồi một đứa con trai giống Dị như đúc chào đời, trong niềm vui tột cùng của đôi vợ chồng trẻ đầy bất hạnh. Và củng kể từ đó phẩm hạnh của người vợ thủy chung mới được gia đình cùng xóm giềng chấp nhận.
Ngày xưa vì đất nước chiến tranh, Dị phải đi lính, không được học hành đến nơi đến chốn. Con Dị lớn lên khi quê hương thanh bình, nhưng lại lâm vào hoàn cảnh khắc nghiệt hơn cha ngày trước: không được học hành, đành cam phận dốt nát.
Ngày tháng dần trôi, con trai Dị trưởng thành, vợ chồng Dị cưới vợ cho con. Theo dòng thời gian, Dị cảm nhận được con trai và con dâu mình chính là như?ng người Thiên Chúa đem đến cho Dị, để thay thế người vợ tuyệt vời được Chúa gọi về trong năm 2002 bằng căn bệnh ung thư ngặt nghèo, gây ra bỏi sự căng thẳng, sự làm việc quá sức để bảo vệ hạnh phúc gia đình và nhất là không có tiền thuốc thang chạy chửa.
Giờ đây con cái Dị thay mẹ chăm sóc chu đáo cho cha. Mỗi lúc các con bận ra ngoài kiếm sống, thì Dị đã có hai đứa cháu nội trai hủ hỉ bên cạnh. Để bù đắp cho mọi nỗi bất hạnh ấy, Dị có được một mái ấm gia đình, tuy thiếu ăn thiếu mặc nhưng chan hòa tình yêu thương.
15-5-2004, ngày lễ Quan Thầy Thánh Gioan Lasan, ngày hội ngộ của các cựu học sinh, Dị có dịp trở lại Ban Mê Thuột hàn huyên cùng bạn bè. Đó củng là lần đầu Dị rời khỏi Hà Lan sau gần 30 năm trở lại sống nơi đó. Trong ngày vui đoàn tụ, bạn bè đều thương cảm cho hoàn cảnh Dị, còn Dị thì bồi hồi xúc động khi nhận được 400 ngàn đồng (khoảng hơn 25 US dolars), tiền các cựu học sinh Lasan quyên góp để chia sẻ những nỗi bất hạnh Dị phải gánh chịu. Đó củng là dịp Dị tâm sự với Bá về cuộc đời mình, để Bá kể lại cho vợ chồng tôi nghe trên chuyến xe đi Hà Lan thăm Dị.
Chẳng biết vội vả hay quýnh quáng thế nào mà Bá bảo chú tài Taxi chạy thẳng tới Buôn Hô. Đến đó hỏi thăm, chẳng một ai biết cái nhà hàng Bá muốn tìm. Điện thoại hỏi lại mới hay các bạn đang đứng chờ chúng tôi ở Hà Lan A. Nghĩa là xe đã đi quá xa trên 10 cây số.
Khi hai bạn Du và Hạnh hiện ra trong tầm mắt, củng là lúc tôi tìm ra tấm biển nhà hàng nhỏ bé treo phía trước. Tôi đ?nh mời các bạn vào bên trong gọi thức ăn ngồi đợi Taxi đi đón Dị. Nhưng hỏi ra mới hay nhà hàng chỉ là nơi đãi tiệc đặt trước mà thôi, còn việc bán thức ăn cho thực khách hàng ngày thí không có. Chúng tôi bèn mời hai bạn lên xe chạy lại nhà Dị. Qua sự đón tiếp quá chân thành chu đáo của Du và Hạnh cho tôi nhận ra rằng, bạn bè nơi đây hết sức mừng cho Dị được bạn phương xa đoái hoài đến thăm.
Tôi nhận ngay ra khuôn mặt Dị ngồi trên chiếc xe lăn đẩy ra mừng đón tôi. Trong niềm xúc động bồi hồi, tôi đến ôm lấy bạn. Tôi không biết phải nói lời nào để chia sớt nỗi gian lao với một người bạn học sau gần 40 năm không gặp mặt, một tình bạn La san
Thấy tôi nhìn chằm chằm vào đôi chân bị teo lại, Dị bảo:
- Tuy còn đôi chân nhưng kể cũng như không, bởi tôi bị liệt nửa thân người.
Tôi chỉ nhà tôi rồi giới thiệu:
- Đây nhà tôi, em gái Đinh Thanh Long đấy.
Vợ tôi bà lẹ làng chạy lại ôm lấy Dị, một cử chỉ mà tôi chưa từng thấy nơi nhà tôi trong hơn 32 năm chung sống. Lúc buông nhau ra, Dị mếu máo cười bảo nhà tôi:
- Ôm em bạn, tôi tưởng như được ôm chính Long bạn mình.
Sau vợ, đến lượt tôi cũng đến ôm lấy Dị. Tôi không thể nào diễn đạt hết những cảm xúc riêng tư của ba chúng tôi. Tôi chỉ biết rằng: Thái Hữu Dị, một người bạn bất hạnh,  người gánh chịu nhiều khổ đau nhất trong cuộc chiến tàn khốc vừa qua. Thái Hữu Dị không thể nào tự mình đến gần chúng tôi được mà chính chúng tôi phải đến với Thái Hữu Dị. Ngay trong giây phút ấy tôi nhận ra trong bao năm qua, mình đã bỏ quên bạn bè, bỏ quên đồng đội. Vòng tay ấm áp trao cho nhau buổi tiển đưa hôm ấy, tuy không được ghi lại bằng hình ảnh. Nhưng nó sẽ khắc sâu vào lòng ba chúng tôi. Riêng tôi, tôi biết mình sẽ phải làm những gì thực tế nhất cho Thái Hữu Dị  trong những ngày tháng sắp tới.


 
Dị nói như mếu:
- Như vậy hôm nay tôi được cả Long lẩn Hưởng cùng đến thăm một lượt.
Nhà tôi ngồi nghe chúng tôi hàn huyên nhắc lại chuyện xưa một lát rồi đứng lên bảo:
- Các anh cứ ở nhà nói chuyện đi, để tôi chạy vội đi tìm mua chút gì về ăn mừng buổi hội ngộ hôm nay.
Anh Hạnh tình nguyện chở nhà tôi đi. Ở nơi Hà Lan nhỏ bé này chẳng có mấy hàng quán. Hạnh cho xe ghé lại tiệm ăn đầu tiên, nơi đây nhà tôi chỉ mua được vài món. Hạnh lại đưa vợ tôi đến quán khác. Mãi đến khi nhà tôi gọi thức ăn xong, Hạnh mới lên tiếng:
- Đây là con dâu của tôi, nó nấu ăn giỏi lắm, từng có quán ăn ở Cần Thơ.
Nhà tôi ngạc nhiên hỏi:
- Vậy sao anh lại đưa tôi vào tiệm ăn đằng kia làm gì?
Hạnh chưa kịp trả lời, cô con dâu xen vào:
- Sao ba không đưa bác lại đây ngay?
Hạnh ngập ngừng cười bảo con:
- Tao mừng cho bác Dị mày quá nên chẳng còn nhớ gì cả.
Rồi ông hối con:
- Mày cố làm nhanh lên, bác đây phải rời Hà Lan trước 2 giờ chiều nay.



Riêng phần tôi, từ lúc vợ đi mua thức ăn, tôi tận dụng từng giây từng phút. Tôi muốn trong cái khoảnh khắc ngắn ngủi này, tôi có thể tìm hiểu thêm về cuộc sống Dị ngoài những gì Bá đã kể. Tôi được biết: gia đình Dị hiện có 5 nhân khẩu, sống trong căn nhà nhỏ nằm cách quốc lộ 14 khoảng 50 thước, dưới chân con dốc thoai thoải. Nguồn Thu nhập chính nhờ vào cái ao nhỏ nuôi cá, cộng thêm 300 gốc cà phê và công việc làm thuê làm mướn của vợ chồng người con. Lúc chúng tôi đến thăm, chỉ có hai đứa cháu nội ở nhà, còn con trai và con dâu Dị bận đi hái cà phê.
Hơn nửa giờ sau, thức ăn mang về được bày ra đầy bàn. Tôi cảm nhận được một niềm vui dâng lên trong lòng khi thấy mọi người tạm quên đi cái buồn chung quanh cuộc sống Dị, để thưởng thức bửa cơm trưa hội ngộ, tuy vội vả nhưng chân thành thắm thiết. Tôi thấy được nụ cười nở trên môi Dị và niềm hân hoan trên từng nét mặt bạn bè.
Rồi đến lúc phải nói lời chia tay, dù tôi còn bao điều muốn hỏi, muốn biết và muốn chia sẻ cùng bạn. Tôi thấy trong ánh mắt Dị đầy xúc động khi cầm trên tay chút ít tiền nhà tôi trao. Tôi siết tay tạm biệt các bạn, mọi người cùng bước theo tôi ra xe. Vừa mở cánh cửa, tôi vừa quay lại vẩy tay chào. Tôi bắt gặp một mình Dị cô đơn trên chiếc xe lăn cách chúng tôi vài ba thước. Dị lẳng lặng ngồi đó nước mắt lưng tròng tiếc nuối. Dị cố tiến lại gần, nhưng đành bất lực bởi con đường dốc gồ ghề lổm chổm đá đã cản bánh xe lăn. Không chỉ riêng tôi cảm nhận được điều này mà cả vợ tôi củng vậy,




(Bút ký của tác giả đã được biên tâp lại,  thành thật xin lỗi tác giả)

Nguồn tin: Cựu HS La San BMT

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
phamdungcm - 30/06/2012 23:19
Thật tình bạn qúa thiên liêng, cảm ơn anh Nguyễn Văn Hưởng, bài viết anh rất hay và cảm động chỉ có tình bạn hữu và tinh thần La san mới mạnh mẽ như vậy, em biết được trong hình của anh đăng trong bài, có anh Toán (Nguyễn Đức Toán) Mừng (Phạm văn Mừng ) cả 2 anh đang ờ Australia, cảm ơn bài viết của anh

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Cựu học sinh LASAN Banmêthuột
Email : lasankbuon@gmail.com 
SĐT liên lạc : 0919.589.979