la san hoi ngo 5

Trang nhất » Tin Tức » Thư giản

Thái Thế Thời

Thứ hai - 20/10/2014 18:49
Thái Thế Thời

Thái Thế Thời

Sunday, October 19, 2014
Chào các bạn cựu học sinh Lasan Ban Mê Thuột
Xin phép được gọi nhau như vậy và xin được tự giới thiệu: tôi tên Nguyễn Văn Hưởng sinh năm 1948, học lớp Đệ Tam và Đệ Nhị tại Lasan Đồi niên khóa (1964-1965) và (1965-1966) hiện cư ngụ tại thành phố San Diego bang California Hoa Kỳ.
Nhân đây tôi cũng xin gởi đến các bạn một bút ký viết cách nay cũng ngoài chục năm về bạn bè cũ và mái trường xưa.
Thân mến
Nguyễn Văn Hưởng


Thái Thế Thời
Bút Ký Sapy Nguyễn Văn Hưởng

     Kể từ đầu niên khóa 1964 - 1965, nền giáo dục Lasan trên miền đất đỏ Ban Mê Thuột bước sang một trang mới. Ngôi trường nhỏ bé, nằm ngay trung tâm tỉnh lỵ, chỉ dạy đến lớp Đệ Tứ, tức lớp 9 ngày nay chính thức đóng cửa, để chuyển sang ngôi trường mới. Ngôi trường được xem bề thế nhất vùng Cao Nguyên vào thời buổi đó, đã tạo cho bọn học trò Lasan thêm đôi chút hãnh diện về mái trường mình. Trên danh nghĩa nhà trường vẫn giữ nguyên tên Lasan Ban Mê Thuột, nhưng cái tên Lasan Đồi chẳng rõ từ đâu lại được mọi người gọi riêng cho ngôi trường mới. Lasan Đồi nghe vừa là lạ, mộc mạc, thân thương, lại còn diễn đạt luôn cái vị trí cao ráo, thoáng mát, và dễ dàng phân biệt với ngôi trường cũ.
Từ bên dưới quốc lộ 14, con đường nối Bình Dương với các tỉnh thành miền Cao Nguyên muốn lên trường, phải băng qua cổng chính. Thoáng trông chẳng khác chi cổng một cơ quan công quyền hay trại lính. Rồi còn leo thêm con dốc dài gần cả trăm thước nữa mới vào tới mé sân trường. Đối với học sinh nội trú ăn ở, học hành luôn trong trường như tôi. Mỗi lần được phép ra phố, nếu có dịp cuốc bộ, tôi thường hay rủ rê bạn bè men theo lối mòn phía sau ngôi nhà ăn. Cứ thế lần xuống cuối chân đồi, băng ngang con suối nhỏ để vào buôn A-Lê-A, ngôi làng người Thượng gốc Ê Đê. Sau cùng còn phải vượt thêm vài con dốc ngắn nữa mới ra đến phố chợ.
Lasan Đồi khai giảng lúc trường ốc xây cất còn dang dở. Ngồi trong lớp học, mùi vôi nồng, quyện với mùi gỗ bàn ghế mới vẫn nồng nặc. Được học lớp “cao cấp” nhất trường, giúp cho hơn hai chục học sinh lớp tôi sớm trưởng thành, để xứng đáng là bậc đàn anh của cả ngôi trường. Trong lớp chỉ có tôi và Đinh Thanh Long, gia đình ở tận Mỹ Tho, nói giọng đặc sệt miền Nam, khác hẳn giọng mọi người. Vì thế Long - Hưởng luôn bị bạn bè chọc ghẹo, rồi gán ghép thành cặp bài trùng, mỗi khi có dịp ôn lại chuyện thầy xưa bạn cũ.
Bước sang năm học thứ hai, cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn ngày càng khốc liệt thêm. Bầu không khí lớp Đệ Nhị trầm hẳn xuống. Nỗi ưu tư, lo lắng về thân phận, về tương lai đất nước, đã cướp mất hết cái hồn nhiên của tuổi niên thiếu. Ai cũng hiểu, đây là năm học quan trọng nhất cuộc đời. Nếu thi đỗ mảnh bằng Tú Tài phần một, mới được tiếp tục đeo đuổi việc học hành. Đến khi gia nhập quân đội, sẽ được theo học các khóa sĩ quan. Còn chẳng may thi trượt, việc xin hoãn dịch sẽ hết sức khó khăn, rất có thể phải lên đường nhập ngũ ngay, nếu đã quá tuổi quy định. Cuối năm học ấy, lòng tôi buồn rười rượi lúc phải rời xa mái trường. Giờ đây sau hơn bốn thập niên trôi qua, tôi mới biết chiến tranh hợp cùng với thời gian đã cướp đi khá nhiều thầy xưa bạn cũ của mình.
 
*
*    *
 
Lòng tôi rộn lên bao nỗi bồi hồi, xao xuyến, ngay từ khi rừng cây, đồi núi bạt ngàn rõ dần trong tầm mắt. Đến lúc máy bay đáp xuống phi trường Phụng Dực, tôi mới nhận ra mình đã mất đi quá nhiều hình ảnh quen thuộc vẫn lưu trong ký ức. Từng con đường, mỗi góc phố nơi miền đất “nắng bụi mưa sình”, giờ đều đổi thay. Mãi cho tới khi đầu tôi được cúi xuống, miệng được gọi người đứng trước mặt mình bằng tiếng “phe” (frère) thân thương, cho dù chiếc áo thụng đen quen thuộc không còn mặc trên người nữa, thì quá khứ mới dần dần hồi sinh lại trong tôi.
Hỏi thăm các “phe”, tôi có được địa chỉ thầy Nguyễn Thái Đình. Tuy thầy chỉ thay thế thầy Cao Thế Dung, dạy môn Việt Văn cho lớp tôi vài giờ ít ỏi, nhưng tôi vẫn giữ khá nhiều kỷ niệm về thầy. Bởi thầy còn là vị giám thị, hằng đêm chăn dắt đám nội trú chúng tôi. Niềm vui sau mấy mươi năm tái ngộ không thể che hết mọi nỗi bi thương vẫn hiển hiện trên gương mặt, cử chỉ, cùng lời nói của thầy. Tuy mới ngoài sáu mươi, mà trông thầy y như ông cụ già nua lụm cụm. Tôi cảm thấy thầy suy xụp cả về thể xác lẫn tinh thần. Thầy lo sợ đến nỗi không dám tới dự các buổi họp mặt, cũng như lễ lạt gì có liên quan đến mái trường xưa. Ngay như thư từ học trò, bạn hữu gởi từ ngoại quốc về, đọc xong thầy đều đem đốt hết. Tôi không đủ thời gian truy tìm rõ nguyên do và cũng không muốn khơi dậy nỗi đau trong lòng thầy, nên lúc ngồi đối mặt nhau tôi lặng thinh nhiều hơn nói. Cuộc sống vật chất của gia đình thầy tạm ổn, bởi con cái đều lớn khôn. Tôi thương là thương cái tinh thần bị sa sút quá trầm trọng. Đến với thầy Đình, tôi mong tìm một người để hàn huyên chuyện quá khứ. Vì thấy thầy như vậy, tôi đành để những đau thương đã qua nằm yên trong lòng thầy. Lúc chia tay nhau, thầy Đình nói cho biết: tôi chẳng còn người bạn học cũ nào sống trên vùng đất này nữa. Khiến tôi cảm thấy bị hụt hẫng trong hai ngày trở về với Ban Mê Thuột.
 
*
*    *
 
Rời nhà thầy Đình, tôi đón xe ôm đi thăm lại trường xưa. May mắn thay, tôi gặp được người lái xe đứng tuổi, sinh ra và lớn lên trên vùng đất cao nguyên này. Anh ấy giúp tôi dễ dàng nhận ra bao sự đổi thay. Vẫn tưởng tôi chưa hay biết gì về sự mất mát của ngôi trường xưa, anh nuối tiếc chia sẻ:
- Lasan Đồi bây giờ đã trở thành trường Cao Đẳng Sư Phạm rồi!
Tôi ngậm ngùi:
- Tôi đã biết điều này. Không chỉ thầy trò Lasan Ban Mê Thuột bị mất trường, mất lớp thôi đâu, mà toàn thể hệ thống giáo dục Lasan, có mặt tại Việt Nam từ hơn thế kỷ nay đều cáo chung. Tôi nghĩ, giờ đây còn chăng là cái tinh thần Lasan thôi.
Xe đến gần trường hơn, anh lại bảo:
- Tôi không chắc gã bảo vệ cho anh vào trong trường đâu!
Tôi nhún vai đáp:
- Không cho đến gần, tôi đứng từ xa. Không ai có thể cản ngăn “tầm nhìn” và “hướng nhìn” của tôi được đâu anh!
Lúc anh tài ngoái đầu nhìn về phía sau, chuẩn bị cho xe rẽ trái, tôi ra dấu bảo anh dừng lại. Tôi muốn tìm kiếm căn nhà chung vách, của hai anh em bác tài xế chiếc Land Rover và chiếc xe Car, chuyên chở học sinh thủa nào, cùng con suối mà bọn nội trú chúng tôi trước đây, mỗi tuần một lần được xuống nô đùa, tắm rửa, trong dòng nước mát. Người xưa, nhà cũ đều mất dấu, chỉ mỗi con suối vẫn róc rách chảy. Tiếc thay “dòng nước” giờ ô uế đến nỗi, tôi không giám nhúng bàn chân xuống, để tìm lại cái cảm giác ngây ngất vẫn phảng phất trong lòng.
Tôi lại đảo mắt tìm dấu tích cái cổng trường xây bằng gạch nung màu đỏ chói, cao vút như mái mấy ngôi nhà sàn. Tôi vẫn nhớ như in, ngay chính giữa cái cổng ấy, có một gian phòng nhỏ, được dùng làm chỗ ở cho cha con ông gác dan, và cũng là nơi phân chia con đường thành hai lối đi lên xuống. Rồi đến một đêm kia, tôi không còn nhớ chính xác vào ngày tháng nào, cái không gian êm ả, tĩnh mịch của ngôi trường thân yêu, đã bị khuấy động bởi hàng loạt tiếng súng nổ. Sáng ra, thằng Ninh, con ông gác dan, cũng là một học sinh Lasan Đồi, hớt hải chạy vội lên trường mếu máo báo tin, bố em bị chết ngay sau phát đạn nổ đầu tiên.
Ai cũng tưởng một cuộc đụng độ đã xảy đến ngay bên hông nhà trường. Nhưng không, trong nỗi kinh hoàng, đau đớn, xót xa đến tột cùng. Đứa học trò may mắn sống sót ấy chỉ biết một toán quân, di chuyển ngang đấy. Vì lầm tưởng cổng trường là cổng một đồn lính, liền nổ súng tấn công. Qua ngày hôm sau, tôi như linh cảm, vành tang trắng chít lên đầu người bạn nhỏ mồ côi học cùng trường, bước theo sau chiếc quan tài người cha vắn số, như điềm báo trước sự khởi đầu cho những đau thương, tang tóc sẽ tiếp tục đổ xuống ngôi trường và quê hương đất nước trong những ngày sắp đến.
Lòng tôi càng xót xa thêm khi ngôi trường cũ hiện ra trước mắt. Khung cảnh tuy khác đi nhiều, nhưng tôi vẫn tìm được lớp Đệ Tam tôi học ngày nào. Thoáng nhìn vào bên trong, tôi nhận ra ngay, căn phòng ấy chỉ giữ lại cho tôi cái khoảng trống không, Riêng bàn ghế khi xưa nay chẳng còn gì. Làm sao họ có thể giữ nguyên vẹn hơn hai chục bộ bàn ghế học trò to đẹp, rộng rãi y như ghế bàn thầy giáo, mà có thời chúng tôi hãnh diện được ngồi trên đó. Tôi cũng bước sang lớp Đệ Nhị, rồi đến cả nơi học sinh lớp tôi đứa đứng, đứa ngồi để chụp tấm ảnh lưu niệm chung với các “phe”, các thầy. Ảnh xưa tôi vẫn giữ, thầy bạn tôi giờ đây kẻ mất người còn, mỗi người lưu lạc mỗi nơi.
 
*
*    *
 
Sang ngày hôm sau, mãi đến hơn 4 giờ chiều máy bay mới cất cánh, vậy mà tôi chẳng còn tha thiết gì tới nơi chốn tôi nôn nao, mong đợi từng ngày để được trở về viếng thăm. Phố Núi đã trở nên xa lạ với tôi thật rồi sao? Lúc đang suy tính xem phải làm gì, cho mau hết cái thời gian lê thê ấy, chợt tiếng chuông điện thoại reo vang. Nhân viên lễ tân báo cho biết, “phe” Kiều Duy Sơn, người giúp tôi tìm lại được thầy Nguyễn Thái Đình ghé lại thăm. Tôi hơi ngạc nhiên khi nghe “phe” hỏi:
- Anh chị muốn đi xem vườn lan với “phe” bề trên Đoàn Gia Hàm không?
Tôi bèn châm chọc:
- Chắc nhờ mất trường, mất lớp nên các “phe” rảnh rang, có thì giờ đi ngắm kiểng xem hoa phải không?
“Phe” Sơn cười:
- Chỉ anh chị đi ngắm hoa thôi. Còn bề trên Hàm và em đến vườn lan với mục đích khác.
Rồi “phe” Sơn chia sẻ qua về thực trạng của các “phe” từ sau ngày 30-4. Mãi cho đến giờ phút này, việc dòng Lasan xin mở lớp dạy học, dù chỉ để giúp đỡ các học sinh nghèo, không đủ tiền trang trải học phí tại các trường công lập do nhà nước quản lý, ở giữa lòng thành phố hay vùng sâu vùng xa, vẫn phải mượn danh người khác. Ngoài ra các “phe” phải tự xoay xở bằng mọi cách, hầu có nguồn tài chính để sống cho qua cái thời buổi nhiễu nhương, cùng tiếp tục đeo đuổi và nuôi dưỡng lý tưởng giáo dục thanh thiếu niên. Nên việc đi thăm vườn lan chỉ là cái cớ. Thật ra, các “phe” muốn tìm hiểu xem ngành nghề trồng lan mới thành hình trên Ban Mê Thuột mấy năm trở lại đây, có thể bắt chước làm theo, hầu kiếm thêm thu nhập cho nhà dòng hay không. Thế là cái buồn trong tôi tạm rũ áo ra đi, nhường chỗ cho cuộc hẹn hò nơi vườn lan trong buổi sáng hôm ấy.
Ngày xưa mỗi lần có dịp vào rừng cắm trại, tôi thường hay lang thang đi tìm lan. Nhưng lan đâu mọc ở ven rừng, cho cậu học trò ngờ nghệch như tôi trèo hái. Thủa ấy, tôi thích lan, có lẽ bởi chữ lan nghe êm ái, nhẹ nhàng, khiến các bậc cha mẹ hay dùng để đặt tên cho con gái, hơn là thích nét đẹp của loài hoa. Hôm nay, lan phô bày ra trước mặt, tôi không phải tốn công đi tìm. Tôi say sưa ngắm nhìn, liên tục bấm máy ảnh, chụp hết cành lan này, sang nhánh lan khác. Tôi cười thầm khi nhận ra, mãi đến lúc tuổi đời đã bước vào thu, mới thực sự biết yêu mến loài lan qua sắc thắm.
Tôi không tha thiết gì đến việc ngắm hoa nữa, sau khi được ông chủ vườn giới thiệu với Kiếm, người khách mới từ ngoài cổng bước vào. Kiếm cũng là cựu học sinh Lasan Đồi, học dưới tôi vài lớp, sống nơi “Bụi Mù Trời”, “Buồn Muôn Thủa” này từ ngày còn tấm bé. Trò chuyện qua lại một lúc, tôi nhận ra trong Kiếm, như ẩn giấu cả một kho tàng kỷ niệm về Lasan Ban Mê Thuột. Nên tuy đứng cạnh các cành lan tuyệt đẹp, nhưng Kiếm và tôi chỉ toàn nhắc đến “phe” này, “phe” nọ, “phe” ghét, “phe” thương, rồi tới các thầy các bạn.
Câu chuyện đang rơm rả, đột nhiên Kiếm chuyển sang một “tông” khác, vồn vã hỏi tôi:
- Anh Hưởng còn nhớ Nguyễn Văn Nhơn không?
Tôi vội đáp:
- Nhớ chớ! Hai năm ở trên này, trong lớp tôi học chỉ có ngoài hai chục học sinh thôi, làm sao quên nhau cho được!
Kiếm liền ngỏ ý chở tôi lại nhà Nhơn. Thế là sự nôn nóng, vui mừng sắp được gặp lại bạn cũ, kéo tôi và Kiếm rời vườn lan ngay lập tức.
 
*
*    *
 
Mỗi lần đi qua đèo Ngang, bất kể sáng trưa hay chiều, tôi đều ngân nga khe khẽ mấy vần thơ gợi cảnh, gợi hình của bà Huyện Thanh Quan:
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa…
Còn mỗi khi có dịp thăm hỏi bạn cũ, thầy xưa thì lời thơ bài “Tình Già” của Phan Khôi lại hiện ra trong đầu. Nhất là hôm nay, trở về ngay nơi tôi đã học bài thơ được xem là bài đầu tiên phá bỏ mọi lề luật của lối thơ cổ. Ngày ấy tôi mới tròn 17, nên con số 24 năm xa cách đối với tôi quả thật diệu vợi. Giờ tôi xa bạn xa bè có người đã ngoài bốn thập niên, gần gấp đôi thời gian xa nhau trong mối “Tình Già”. Nên ngồi nơi yên sau chiếc Honda do Kiếm lái, tôi lầm bầm trong miệng mấy vần thơ xưa:

Hai mươi bốn năm sau
Tình cờ đất khách gặp nhau
Đôi mái đầu đều bạc…
 
Nghĩ đến Nhơn, tôi mượn lời thơ cụ Phan Khôi để tự hỏi mình lẫn người tôi sắp được gặp lại:
- Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được?
Kiếm ngừng xe trước một cửa hiệu tạp hóa bề ngang nhỏ hẹp, nhưng trị giá chắc phải lớn lắm, bởi nó nằm giữa nơi thị tứ. Nhờ chú tâm đến Nhơn ngay từ khi Kiếm nhắc tên, nên vừa trông thấy một trung niên, đứng bán hàng sau cái quầy kính nhỏ, tôi nhận ra bạn mình ngay. Tôi lẳng lặng bước đến trước mặt. Nhơn ngước nhìn tôi, sắc diện không chút đổi thay, như đang chờ đợi khách hỏi mua hàng. Trong bồi hồi, tôi còn đủ tỉnh táo tìm ra lời giải đáp cho câu cụ Phan Khôi thắc mắc, chợt mỉm cười lầm bầm một mình:
- Nếu có quen lung, cũng chẳng nhìn ra được!
Biết vậy tôi lên tiếng trước:
- Nhơn, bộ ông không nhớ tôi sao?
Gương mặt Nhơn vẫn như bình thường, chỉ có đôi mắt hơi nhướng lên rồi trở lại bình thường ngay. Tôi đành phải tự giới thiệu:
- Hưởng đây, ông nhớ Nguyễn Văn Hưởng không?
Quét mắt khắp người tôi một lượt, Nhơn nhíu mày, nhìn chằm chằm mặt tôi lâu hơn, mới rời khỏi quầy hàng bước vội ra ôm chầm lấy tôi nói như hét:
- Mày hả Hưởng? Chúa ơi! Hồi đó mày như cây sậy, giờ phát tướng to gấp đôi ngày xưa, làm sao tao nhìn ra được. Mà còn nói giọng Bắc kỳ nữa! Tướng mày sao giống Việt kiều quá, bộ Việt kiều thiệt hả Hưởng?
Tôi gật đầu nhìn bạn mỉm cười. Nét xưa của Nhơn cũng đâu còn gì nhiều. Mái tóc đen lúc nào cũng mượt mà, ôm sát ót, giờ đã lốm đốm bạc, vầng trán còn hằn lên vài nếp nhăn. Được cái thân thể Nhơn có phần rắn chắc, phong trần… Tôi gượng cười để che giấu nỗi xót xa:
- Mày coi bộ dày dạn hơn tao đó. Chắc nhờ “lao động vinh quang” phải không?
Nhơn cười méo xệch; trông giống y như lần bị hai cái hột vịt to tướng vì làm toán sai. Nhơn ngoắc tay gọi đứa bé gái ra trông coi cửa hàng, kéo tôi và Kiếm mời vào trong nhà. Kiếm vội nói lời từ biệt:
- Thôi, tôi xin chúc mừng ngày hai anh hội ngộ, bận tý việc tôi phải đi bây giờ.
Kiếm đi rồi, Nhơn đưa tôi vào căn buồng nhỏ ở ngay sau quầy bán hàng. Rót tách trà mời bạn xong, Nhơn hỏi:
- Mày đi hồi nào và hiện ở đâu?
- Gia đình tao vượt biên vào giữa năm 76, được chính phủ Mỹ cho tỵ nạn và định cư ở đó cho đến giờ.
Nhơn chép miệng:
- Mới đó mà tụi mình đã già hết rồi, kêu nhau mày tao hoài giờ nghe cũng kỳ kỳ!
Lời Nhơn nói đã khơi dậy trong tôi bao kỷ niệm thân thương, khiến tôi bồi hồi, xúc động. Tôi thân mật hỏi Nhơn:
- Mày nhớ “phe” Vital không?
Nhơn nhanh nhẩu đáp:
- Có phải “phe Sữa” dạy Toán Lý Hóa năm Đệ Nhị không? Hồi đó ổng mới mặc áo dòng còn trẻ măng, nên mới bị tụi mình đặt cho cái biệt danh đó.
Tôi gật đầu kể lể:
- Chuyến tao về nước lần đầu, cách nay cả chục năm rồi. Tao hỏi thăm và biết “phe” Vital đang ở trường Tabert Sài Gòn. Tao liền ghé vào thăm. Thầy trò gặp lại nhau, ông ấy vẫn “mày tao” y chang như ngày xưa, làm tao nhớ Ban Mê Thuột hết sức. Bữa đó “phe” hỏi tao: “Mày nhớ phe Salomon không? Ổng ấy đang ở đây nè”.
Nhơn bùi ngùi cướp lời:
- “Phe” Salomon mất ở trên này, tao có dự thánh lễ an táng “phe”.
Trước khi kể cho Nhơn nghe kỷ niệm cuối cùng giữa tôi với “phe” Salomon, tôi hỏi Nhơn:
- Mày biết vì sao hồi đó tao lên tận Ban Mê Thuột học không?
- Tại mày và Long là hai đứa học trò giỏi và ngoan của bề trên Colomban Lộc, hồi ổng dạy ở Mỹ Tho chứ gì?
Tôi lắc đầu:
- Điều này chỉ đúng với Long thôi, tao thì ngược lại, vừa ham chơi, vừa biếng học. Sở dĩ tao được lên trên này học là vì bề trên Colomban cảm thông nỗi lo của bố tao, một ông lính nghèo. Hồi đó, lương hàng tháng bố tao lãnh về chỉ gần hai ngàn bạc, mà tiền ăn học nội trú phải đóng trên một ngàn bảy. Bề trên thương tình bớt cho bố tao, chỉ phải đóng chẵn chòi một ngàn đồng một tháng thôi. Đời lính rày đây mai đó, nên tiền học phí bố tao gởi lên chẳng bao giờ đúng hạn kỳ. Vậy mà không hiểu sao, tao chỉ bị “phe” Quản Lý gọi lên cằn nhằn có mỗi một lần.
Nhơn cười tiếp lời tôi:
- Có lẽ tao là người bị Salomon réo nhiều nhất, hầu như tháng nào tao cũng đóng tiền trễ.
- Vì thế lúc nghe “phe” Vital hỏi có nhớ phe Salomon không, tao liền cà rởn: “Dạ nhớ chứ, nhưng con không dám lên gặp phe Salomon đâu! Con sợ “phe” đòi tiền học lắm. “Phe” Vital cười ngất, dặn đi dặn lại tao: “Lát nữa gặp ổng, mày nhớ nói y chang câu đó cho tao!”
Nhơn hỏi nhanh:
- Lúc ấy chắc “phe” Salomon lụm cụm lắm phải không?
Tôi gật đầu kể tiếp:
- Đưa tao lên đến nơi, “phe” Vital ra dấu bảo tao đi thẳng vào trong một căn buồng nhỏ hẹp, chỉ đủ chỗ đặt chiếc giường con. Trên manh chiếu hoa đã bạc màu, tao nom thấy một cụ già gầy trơ xương, má hóp, đôi mắt mệt mỏi, nửa thức nửa ngủ lờ đờ nhìn tao bước vào. Tao nhận ra “phe” Salomon ngay. Ông đợi tao ngồi xuống chiếc ghế đẩu đặt bên cạnh đầu giường, mới thều thào lên tiếng: “Ai đó?”. Tao đáp: “Thưa con là Hưởng đến thăm “phe” đây, “phe” còn nhớ con không?” Ông nhẹ gật đầu: “Đứa nào mà “phe” không nhớ”. Tao liền thưa: “Biết “phe” đang ở trên này, con muốn lên thăm, nhưng lại sợ “phe” đòi tiền học phí”. Ông gượng cười: “Con có bề trên Colomban lo cho rồi, “phe” đâu đòi tiền con được”.
Nhơn nhướng to đôi mắt hỏi:
- Nhìn mày tao còn nhận không ra, quả trí nhớ “phe” Salomon siêu phàm thật!
- Tao cũng giật mình sau câu đáp ấy. Nhẩm tính lại, tao nhớ, lần cuối tao gặp “phe” Salomon cách đó đã ngoài ba mươi năm. Tao tin, “phe” không thể nào nhận ra tao qua vóc dáng được. Chắc chỉ có cái tên Hưởng vẫn lưu trong lòng “phe” thôi. Qua trí nhớ của cụ già ngoài 80 ấy, cho tao thấu được cái tình các “phe” đối với học trò Lasan sâu đậm là dường nào. Lời nói ấy giúp tao có được câu trả lời, vì sao suốt hai năm học trên Ban Mê Thuột, tao chỉ bị “phe” Quản Lý gọi lên “xài xể” về vụ đóng học phí trễ chỉ một lần duy nhất. Tao cảm thấy mình quá may mắn, hạnh phúc khi được làm học trò các bậc chân tu đáng kính trên đời.
Nghe chuyện tôi xong, Nhơn bùi ngùi kể chuyện mình:
- Mày đi hơi sớm nên không biết đó thôi, đời sống ở đây long đong lắm Hưởng ơi! Mà không riêng gì tao đâu, bạn bè mình và mọi người ở lại đều vậy cả. Mười năm đầu sau “30 tháng 4”  thê thảm dữ lắm, thiếu ăn, thiếu mặc… Nói chung cái gì cũng thiếu. Ở đây ai cũng từng ăn độn cả khoai rừng lẫn bo bo… Thảm nhất là các “phe”, chẳng những mất trường, “mất dạy”, còn bị xếp vào thành phần ăn bám xã hội. Lý tưởng giáo dục thanh thiếu niên, bị xem như một trọng tội đầu độc thanh thiếu niên, đi không đúng hướng. Các tu viện, trường học… những cơ sở vật chất cần thiết nhất cho nền móng giáo dục Lasan đều  “Dâng Hiến Cho Nhà Nước”. Phần các sư huynh, tu sinh dòng Lasan, bằng cách này hay cách khác, bị ép buộc phải từ bỏ đời sống dâng hiến, phục vụ thanh thiếu niên… Đám học trò muốn phụ giúp, nhưng khổ nỗi thân mình lo chưa xong còn lo được cho ai!
Hớp một ngụm trà, Nhơn kể tiếp:
- Cuộc sống gia đình tao tương đối thoải mái mấy năm nay thôi, kể từ sau ngày đất nước đổi mới. Còn mày, ở bên đó làm ăn ra sao?
Tôi cười bảo Nhơn:
- Giờ tao chỉ ăn thôi, không làm nữa… Tao nghỉ hưu rồi.
- Nghỉ gì sớm vậy?
Tôi nhún vai:
- Phần vì làm biếng, phần nhu cầu vật chất của tao chẳng có chi nhiều, nên mới xin nghỉ hưu sớm để có thời giờ làm những gì mình thích.
Rồi tôi kể cho Nhơn nghe mấy nỗi gian truân trong chuyến vượt biên, vài sự nhọc nhằn trên bước đường tạo dựng lại cuộc sống nơi xứ người, cùng nỗi lòng người tha hương luôn nhớ về quê cũ.
Rồi bất chợt Nhơn hỏi tôi:
- Mày nhớ Thái Hữu Dị không?
Tôi đáp:
- Nhớ chớ sao không? Nó là thằng cao ráo, đẹp trai, vui tính… Cái họ Thái khiến nhiều đứa lầm tưởng nó là ba Tàu, vẫn nằm như in trong đầu tao đây. À, tao cũng còn giữ được mấy tấm ảnh tụi mình chụp ngày xưa. Về đến Sài Gòn, tao sẽ rửa thêm rồi gởi lên đây cho mày.
Chờ tôi nói dứt câu, Nhơn bùi ngùi kể tiếp:
- Trước đây Dị đi lính, bị thương liệt cả nửa thân người. Còn vợ nó mới mất hơn năm nay.
Tôi liền hỏi:
- Hiện Dị ở đâu?
- Ở Hà Lan với vợ chồng thằng con trai.
Tôi nuối tiếc:
- Thật tiếc quá! Tháng Tư vừa rồi tao đi Hà Lan chơi mấy ngày, biết Dị ở đó, tao đã ghé thăm nó rồi!
Nói xong tôi ngồi trầm ngâm, nghĩ đến nỗi bất hạnh của Dị, rồi lại mừng thầm cho bạn được định cư ở một đất nước mà chính phủ luôn quan tâm đến đời sống người dân, và nhất là có chính sách đặc biệt chăm sóc cho người tàn tật.
Trước lúc chia tay, Nhơn đập mạnh hai tay vào nhau nói nhanh:
- Chút nữa tao quên, Nguyễn Hữu Bá cũng ở trên con đường Y Jút này nè.
Tôi mừng rỡ:
- Vậy mày cho tao địa chỉ, để tao ghé lại thăm Bá!
- Tao chỉ biết nhà nó thôi chớ không nhớ số. Mày sang cửa hiệu bán đồng hồ của đứa con dâu Bá, ở trước mặt tiệm tao, hỏi là biết ngay.
Từ giã Nhơn, tôi băng vội qua bên kia đường. May thay người tiếp tôi lại chính là cô con dâu của Bá. Cô ta cho tôi số nhà xong, liền đề nghị:
- Hay để con điện cho ba con lại đây đón bác.
Thấy vẫn còn sớm, tôi bảo cô:
- Cám ơn con, để bác tản bộ thăm ba được rồi.
Mặc cho đôi chân rảo bước, mắt tôi cứ dán vào mấy con số ghi trên tường, để biết mình còn cách bạn bao xa.
Bá ra tận ngoài đường ngóng chờ tôi, nhưng tôi lại là người nhận ra Bá trước. Tay bắt mặt mừng xong, chuyện bạn bè chung cùng mái trường tiếp tục nổ như bắp rang. Thêm một lần nữa ba tiếng Thái Hữu Dị lại phát ra từ môi miệng Bá, và tôi cũng lập lại lời tiếc rẻ như lúc chuyện trò với Nhơn:
- Hồi tháng Tư vừa rồi, vợ chồng tôi qua bên Âu Châu, có ghé Hà Lan chơi ít ngày. Tiếc là không biết Dị đang sinh sống tại đó.
Bá bật cười:
- Dị nó ở xã Hà Lan cách Ban Mê Thuột ngoài 30 chục cây số đây thôi, chớ đâu phải ở tận bên nước Hà Lan.
Nghe Bá nói, tôi quá đỗi ngạc nhiên, ngẩng mặt nhìn ngay lên chiếc đồng hồ treo trên tường rồi nhẩm tính. Với khoảng cách chỉ vài chục cây số, cả đi lẫn về mất cùng lắm khoảng hai giờ xe. Nếu đi ngay, tôi còn cả đôi ba giờ ở chơi với Dị. Tôi liền đề nghị:
- Ông đi Hà Lan thăm Dị luôn với tôi được không?
Ngẫm nghĩ một lúc, Bá gật đầu:
- Tôi chỉ biết Dị ở Hà Lan thôi, vậy ông ngồi đây chờ tôi chạy lại đằng nhà ông Luyện, hội trưởng hội cựu học sinh Lasan Ban Mê Thuột, hỏi rõ địa chỉ cho chắc ăn, rồi tụi mình đi thăm nó.
Tôi hỏi lại:
- Sao không chở tôi cùng đi luôn thể?
Nhận ra sự ngớ ngẩn của mình, Bá cười, vội vàng bước vào nhà sau lấy xe gắn máy chở tôi đi.
 
*
*    *
 
Lúc đến nhà Luyện, cả Bá và tôi đều thoáng buồn khi con trai Luyện cho biết cha vắng nhà. Bá liền hỏi cầu may:
- Cháu ráng tìm cho bác tờ danh sách cựu học sinh Lasan Ban Mê Thuột được không?
Tôi vẫn chưa biết phải làm gì, nếu không tìm được địa chỉ nhà Dị. Vừa nghĩ đến đó, cậu con trai Luyện từ nhà trong bước ra, tươi cười trao cho Bá tấm giấy đang cầm trên tay. Bá liếc qua rồi reo lên:
- Có đây rồi, giờ trở lại nhà tôi gọi điện hỏi rõ đường xong là đi ngay.
Hai đứa ra tới sân, tôi bàn với Bá:
- Hay ông chở tôi về khách sạn, báo cho bà xã tôi biết, xong tôi lo thuê xe rồi chạy lại đón ông.
Bá gật đầu, cho xe lao thẳng về khách sạn.
Tôi phóng như bị ma đuổi lên phòng, hối hả kể chuyện đi thăm Dị. Nhà tôi nhìn đồng hồ nhanh nhẩu sắp xếp:
- Vậy anh xuống trả phòng, gọi taxi, trên này em lo thu dọn đồ đạc. Thăm anh Dị xong sẽ ra thẳng sân bay cho đỡ mất thì giờ.
“Ma” lại đuổi tôi chạy xuống phòng lễ tân lo thanh toán tiền bạc và lấy lại giấy tờ. Tôi gặp may, gọi được chiếc taxi còn mới, cùng anh tài xế trẻ người lanh lợi, nên chuyện đi Hà Lan mới nhanh kịp với sự hối hả đang thúc bách tôi. Tôi dự tính, đón Bá xong sẽ bảo tài xế chạy đến cửa hàng bán đồ ăn thức uống mua vài món đem theo đãi bạn. Lúc nói ý đó ra, Bá lắc đầu:
- Tôi đã gọi được Du và Hạnh cùng dân Lasan, ở gần Dị. Hai anh ấy sẽ đón tụi mình trước cửa một nhà hàng bên cạnh quốc lộ. Như vậy mời mọi người vào đó ăn uống luôn thể, vừa tiện lợi vừa đỡ mất thì giờ.
Chiếc taxi đưa chúng tôi tìm thăm Thái Hữu Dị hôm ấy vượt qua bao con dốc, bao đỉnh đồi tôi không hề hay biết, bởi đầu óc bận chú tâm lắng nghe từng lời Bá kể về hoàn cảnh của một người bạn, một chiến binh Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành phế nhân trong cuộc chiến huynh đệ thương tàn, tang thương nhất trong lịch sử cận đại vừa mới qua đi.
 
*
*    *
 
Thái Hữu Dị chào đời năm Ất Dậu 1945, cái năm giặc giã, mất mùa đã cướp đi cả triệu sinh linh người dân Miền Bắc. Dị là con trai trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, sinh sống nơi họ đạo nhỏ bé Hà Lan. Bố mẹ Dị phải cố gắng vượt qua biết bao vất vả, khó khăn, mới lo nổi cho Dị ra Ban Mê Thuột, ăn nhờ ở đậu nhà người bà con để đeo đuổi việc học hành. “Cái khó bó cái khôn”, sự thiếu thốn về vật chất, đã ảnh hưởng nhiều đến sự học của Dị. Lại thêm phần kém may mắn, nên Dị thi hỏng mảnh bằng Tú Tài phần nhất và cánh cửa học đường khép ngay lại với người học trò bất hạnh ấy kể từ đó.
Cũng như bao trai tráng sống giữa thời buổi loạn ly, Dị lên đường nhập ngũ tòng quân cuối năm 1966. Sau mấy tháng đổ mồ hôi nơi thao trường, Dị tốt nghiệp từ trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, với cấp bậc trung sĩ và tự chọn cho mình màu Mũ Nâu của binh chủng oai hùng Biệt Động Quân.
Đúng một năm sau ngày vào lính, tiểu đội trưởng Thái Hữu Dị điều động toán quân dưới quyền theo chân Tiểu Đoàn 22 Biệt Động Quân tham chiến tại Đắc Tô. Đau đớn thay, đó chính là trận đánh cuối cùng của người hạ sĩ quan trẻ. Thái Hữu Dị bị trúng một viên đạn lúc màn đêm vừa phủ xuống núi đồi. Dị nằm bất động giữa rừng già, mong đồng đội đến giải cứu từng giây, từng phút. Dị phải chờ đợi gần trọn một ngày, mới được trực thăng tản thương ra Tân Cảnh, rồi đưa thẳng vào bệnh viện Pleiku. Vết thương quá nặng, nơi Phố Núi không đủ phương tiện chữa trị. Hai ngày sau, trực thăng lại đưa Dị về Tổng Y Viện Cộng Hòa Sài Gòn.
Suốt mấy tháng dài nằm bất động, nhưng Dị vẫn chứng kiến được cảnh máu đổ, thịt rơi ngay giữa lòng thủ đô Sài Gòn hoa lệ, trong những ngày đầu Xuân. Sau cái Tết Mậu Thân đau thương, tang tóc bao trùm khắp non sông ấy, Dị được chuyển ra Trung Tâm Tê Liệt Vũng Tàu, để tiếp tục điều trị và dưỡng thương. Viên đạn định mệnh trúng đúng vào đốt thứ 8 tủy sống, làm đôi chân Dị bị teo lại và tê liệt hẳn nửa thân người. Khiến Dị không tự kiểm soát được việc tiểu tiện. Mãi cho đến khi giải phẫu xong bọng đái, Dị mới tìm lại được đôi chút cảm giác đã mất.
Sau gần hai năm sống cô đơn, Dị làm quen được một thôn nữ thường ra vào quân y viện thăm viếng thân nhân. Luôn tiện an ủi, giúp đỡ vài thương binh bất hạnh thiếu người chăm sóc. Nhờ vậy tình yêu dần dần nẩy nở. Ai cũng tưởng mối chân tình ấy, sẽ được gia đình đôi bên trân quý, đón nhận. Ngờ đâu, cô thôn nữ lại bị họ hàng bên Dị cho là muốn nhảy vào, để hưởng nguồn tiền trợ cấp thương binh suốt đời của Dị. Sự nghi ngờ ấy không phải vô căn cứ, bởi làm sao có thể tin được, cuộc sống lứa đôi sẽ hạnh phúc, vững bền đối với một phế nhân đã liệt nửa phần thân thể. Dị nhiều lần tỏ bày, tuy mình mất đi cái cảm giác lúc yêu đương, nhưng sự đòi hỏi về xác thịt vẫn mãnh liệt như bao người đàn ông bình thường khác. Trớ trêu thay, sự thật ấy chẳng ai tin.
Đứng trước nghịch cảnh, cô gái vẫn can đảm, nhất quyết giữ lấy tình yêu để được gần gũi, lo lắng cho người mình yêu. Mấy năm sau hai người âm thầm tổ chức “lễ cưới”, dưới sự chứng kiến của vài ba anh em thương binh nằm chung phòng. Quà cưới cho họ chính là sự phản đối, lời nghi kỵ của bà con họ hàng bên gia đình Dị. Người đời vẫn luôn xem Romeo Juliet, là chuyện tình đẹp, bởi hai người cùng chết bên nhau vì yêu. Ngược lại, Thái Hữu Dị và Cô Thôn Nữ đã vượt lên trên mọi khó khăn, ngăn trở để được yêu và nhất là để được sống bên nhau.
Ít năm sau, một vị linh mục tuyên úy, thấu hiểu rõ ngọn ngành câu chuyện tình buồn đầy cao thượng này, ông liền sửa soạn và chuẩn bị cho hai người nói lời khấn hứa, sống trọn đời bên nhau trước mặt Thiên Chúa. Trớ trêu thay, niềm hạnh phúc chưa kịp đến, thì ngày “30 tháng 4” khi giải phóng quê hương. Giống như bao thương binh Miền Nam khác, Dị bị đuổi ra khỏi Trung Tâm Tê Liệt. Suốt bảy năm dài lúc nào cũng được y tá, bác sĩ cận kề săn sóc và có đồng lương hàng tháng. Bỗng dưng mọi thứ ấy cùng chấp cánh bay đi một lượt, thật không còn sự mất mát nào to lớn hơn, đối với một người bị thương nặng như Dị. Người tình, người vợ trong giây phút đó, chính là cái phao cho Dị bám víu để tiếp tục sinh tồn.
Từ Vũng Tàu, vợ chồng Dị dắt dìu nhau trở lại quê hương Hà Lan. Hai người không có lấy một sào ruộng để cày cấy, không một mái tranh để trú mưa, trú nắng. Bằng tất cả nghị lực và tấm lòng yêu thương chân thành, vợ Dị vừa lo bươn chải kiếm sống, vừa dành thời giờ chăm sóc người chồng suốt ngày ngồi trên chiếc xe lăn. Hai năm sau, một biến cố trọng đại xảy đến. Dị tưởng như đang ở trong mơ, khi nghe người vợ hiền thủ thỉ báo tin, mình sắp được làm cha. Cái thai mang đến cho đôi vợ chồng thương binh niềm hạnh phúc lớn lao, nhưng càng gây thêm sự nghi kỵ trong họ tộc, cùng bà con lối xóm, về tấm lòng thủy chung nơi người vợ. Những lời nhỏ to, đàm tiếu tự nhiên dứt hẳn, sau ngày đứa con trai giống Dị như đúc chào đời. Kể từ đó, phẩm hạnh người vợ thủy chung mới được mọi người nhận ra và thương mến.
Lúc đang tìm kiếm cái tên để đặt cho con, bất chợt Dị lại nhớ đến tấm bi kịch trong lịch sử nước nhà, đã xảy ra giữa hai người bạn học chung thầy từ thủa bé, lớn lên nhằm lúc đất nước loạn ly. Sau bao nhiêu năm nồi da xáo thịt, đến ngày đất nước thống nhất, ông Đặng Trần Thường, người theo phò chúa Nguyễn Ánh, lôi ông Ngô Thời Nhiệm, bạn học cũ, người được vua Quang Trung trọng dụng, một kẻ chiến bại ra cửa Khổng sân Trình. Trước lúc truyền lệnh đánh đòn bạn, Đặng Trần Thường đắc chí ra vế đối:
- Ai Công Hầu, ai Khanh Tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai.
Ngô Thời Nhiệm liền đối lại: 
- Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.
Nghĩ về cái chết của ông Ngô Thời Nhiệm sau trận đòn, nghĩ lại phận mình, nghĩ đến vận nước, Dị liền chọn ngay hai chữ “Thế Thời” để đặt tên cho con.
Ngày xưa vì đất nước chiến tranh, Dị không được học hành đến nơi đến chốn đã đành. Thái Thế Thời lớn lên khi quê hương thanh bình, nhưng lại lâm vào hoàn cảnh khắc nghiệt hơn cha ngày trước. Thế Thời không được cắp sách đến trường, cam phận dốt nát. Phần Dị chỉ biết tự an ủi bằng câu: “gặp thời thế, thế thời phải thế”.
Ngày tháng dần trôi, Thế Thời trưởng thành, vợ chồng Dị cưới vợ cho con. Đám cưới Thế Thời không mâm cao cỗ đầy, nhưng có đông đủ bà con, họ hàng, xóm giềng chứng giám. Hôm ấy, vợ Dị đẩy chiếc xe lăn gắn chặt cuộc đời chồng mình trên ấy, theo sau dâu và con, tiến lên bàn thánh, chứng kiến lời hai con tuyên hứa: sống trọn đời bên nhau trước mặt Thiên Chúa. Trong giây phút linh thiêng ấy, Dị quay lại, âu yếm nhìn người vợ đã vì yêu cam chịu trăm điều đắng cay. Hai người tuy không được hứa với nhau bằng lời, nhưng đã tuyên hứa bằng chính cuộc sống của họ trong suốt mấy chục năm qua.
Theo dòng thời gian, nhất là sau ngày tiễn vợ ra nghĩa trang, Dị cảm nhận được con trai và con dâu chính là hai người mà Thiên Chúa gởi đến cho Dị, để thay cho người vợ thủy chung, đã được Chúa gọi về qua căn bệnh ung thư ngặt nghèo, gây ra bởi sự căng thẳng, sự làm việc quá sức, để bảo vệ hạnh phúc gia đình, và nhất là không tiền thuốc thang chạy chữa.
Vợ chồng Thế Thời thay mẹ chăm sóc cha thật chu đáo. Mỗi khi bận ra ngoài kiếm sống, vợ Thế Thời thức dậy thật sớm, nấu cơm nước để lại cho cha. Dị ở nhà hủ hỉ cùng hai đứa cháu nội, nên ngày tháng bớt lê thê và cũng vơi đi phần nào nỗi cô quạnh. Dị nghiệm ra rằng, bên cạnh bao nỗi bất hạnh của cuộc đời, Dị luôn có một mái ấm gia đình. Tuy thiếu ăn, thiếu mặc nhưng chan hòa tình yêu thương.
Hôm lễ Quan Thầy Thánh Gioan Lasan, còn là ngày hội ngộ hàng năm của các cựu học sinh “Thầy Dòng”. Dị có dịp trở lại Ban Mê Thuột gặp gỡ và hàn huyên cùng bạn bè ngày trước. Đó cũng là lần đầu Dị rời khỏi đất Hà Lan sau gần 30 năm quay về sinh sống. Trong ngày vui hội ngộ, mọi người đều thương cảm cho hoàn cảnh Dị. Riêng Dị bồi hồi xúc động khi nhận những tấm chân tình của thầy bạn, chia sẻ nỗi bất hạnh mà Dị đã và đang gánh chịu. Đó là dịp Dị tâm sự với Bá về cuộc đời mình, để Bá kể lại cho vợ chồng tôi nghe trên chuyến xe đi thăm bạn.
*
*    *
Chẳng biết vội vã hay quýnh quáng thế nào, mà Bá bảo anh tài taxi chạy thẳng luôn tới Buôn Hô. Cái tên Buôn Hô quen thuộc với tôi, nay bị cho thêm vào cái dấu huyền, tôi cảm thấy sượng sùng, ngượng ngùng và vô duyên làm sao ấy! Xe đi lạc đường, khiến chú tài phải đôi ba lần cho xe dừng lại hỏi thăm, nhưng chẳng ai biết cái nhà hàng được dùng làm điểm hẹn. Bá điện thoại hỏi lại, mới hay các bạn đang đứng chờ tại Hà Lan A, nghĩa là xe đã đi quá hơn cả chục cây số.
Khi Bá nhận ra hai anh Du và Hạnh đứng đợi bên đường, cũng vừa lúc tôi trông thấy tấm biển nhà hàng nhỏ bé treo trên vách, giống như cái bảng “Vu Quy” e ấp đặt trước cổng nhà cô dâu. Tôi ngỏ lời mời các bạn vào cả bên trong gọi đồ ăn, thức uống trong lúc chờ xe đi đón Dị. Du, Hạnh cười ngất bảo, nơi này chỉ là chỗ cho thuê đãi tiệc. Chúng tôi lại ngồi hết lên xe, chạy đến nhà Dị.
Qua sự đón tiếp nhiệt tình của Du và Hạnh, cho tôi hiểu ra rằng, bạn bè nơi chốn hẻo lánh này, hết sức vui mừng khi hay tin Dị có bạn phương xa tìm đến nhà thăm. Tôi nhận ra bạn mình ngay khi vừa trông thấy một người đang cố sức đẩy chiếc xe lăn ra tận ngoài đường đón khách. Trong bồi hồi, xúc động tôi ôm chầm lấy Dị. Tôi chẳng biết phải nói lời nào để chia sớt bao nỗi gian lao với người bạn học, sau gần bốn thập niên xa cách, với một chiến hữu, người đã đóng góp máu xương ngoài chiến trường cho quê hương đất nước.
Thấy tôi nhìn chằm chằm vào đôi chân teo ngắt, Dị vội bảo:
- Tuy chân tôi vẫn còn, nhưng kể cũng như không, bởi tôi bị liệt cả nửa thân người.
Đưa mặt về phía nhà tôi đứng, tôi giới thiệu:
- Đây bà xã tôi, em Đinh Thanh Long đấy.
Dị nói như mếu:
- Như vậy coi như hôm nay tôi gặp được cả Long lẫn Hưởng cùng đến thăm một lượt.
Ngồi nghe chúng tôi nhắc chuyện xưa một lúc, nhà tôi đứng dậy bảo:
- Giờ cũng gần trưa rồi, các anh cứ ngồi ở nhà trò chuyện, để tôi chạy ra chợ, tìm mua chút gì về ăn mừng cho buổi hội ngộ hôm nay.
Hạnh đứng lên theo, nói nhanh:
- Để tôi cùng đi với chị cho tiện.
Miền đất Hà Lan nhỏ bé này chẳng có mấy hàng quán. Ghé vào quán đầu tiên, nhà tôi chỉ mua được vài ba món. Tới quán thứ hai, gọi thức ăn xong, Hạnh mới giới thiệu:
- Đây là con dâu tôi, nó nấu ăn giỏi lắm, từng làm chủ một quán ăn ở Cần Thơ đó.
Nhà tôi ngạc nhiên:
- Vậy sao anh lại đưa tôi vào quán đằng kia để làm gì?
Hạnh chưa kịp trả lời, cô con dâu xen vào:
- Sao ba không đưa bác lại đây ngay?
Hạnh ngập ngừng:
- Tao mừng cho bác Dị mày quá, nên quýnh quáng chẳng còn nhớ gì cả.
Biết chúng tôi còn rất ít thời gian, chốc chốc Hạnh lại hối:
- Ráng làm nhanh nhanh lên đi con, bác đây phải rời Hà Lan trước hai giờ chiều nay.
 
*
*    *
 
Riêng phần tôi, cố tận dụng từng giây phút một, để tìm hiểu thêm về cuộc sống của Dị, ngoài những gì tôi vừa nghe Bá kể.
Gia đình Dị hiện có 5 miệng ăn, chung sống trong căn nhà nhỏ bé, cũ kỹ, dưới chân con dốc thoai thoải, cách quốc lộ 14 vài chục thước tây. Nguồn thu nhập chính nhờ vào công việc làm thuê làm mướn của vợ chồng đứa con trai, cộng thêm cái ao cá và vài ba trăm gốc cà phê. Lúc chúng tôi đến, chỉ có hai đứa cháu nội ở nhà, vợ chồng Thế Thời bận đi làm xa. Nhìn mấy con vịt lông trắng phau, tung tăng bơi lội, lặn hụp dưới ao, tôi không đoán nổi, cái ao nhỏ bé sau nhà này, nuôi được bao nhiêu con cá? Đến khi nghe Dị nhắc đến mấy trăm gốc cà phê, Bá liền giải thích:
- Cà phê vài năm nay, nhổ bỏ thì tiếc, cố giữ lại thì lỗ công.
Đồ ăn thức uống nhà tôi mua về được bày ra chiếc bàn tròn, đặt giữa cái trái sau nhà. Mọi người tạm quên đi nỗi buồn chung quanh cuộc sống đầy bất hạnh của Dị, để cùng nhau ăn bữa cơm trưa hội ngộ. Tôi thoáng thấy được nụ cười nở trên môi Dị và niềm hân hoan trên từng nét mặt bạn bè, lúc nâng ly chúc mừng nhau.

Rồi cũng đến lúc phải nói lời chia tay, dù tôi còn bao điều muốn hỏi, muốn biết, muốn chia sẻ cùng bạn. Tôi thấy trong ánh mắt Dị đầy xúc động, lúc siết tay tạm biệt nhau. Mọi người tiễn chúng tôi đến tận cửa xe. Lúc quay lại vẫy tay chào, tôi bắt gặp mình Dị cô đơn trên chiếc xe lăn, cách tôi chỉ vài ba thước. Dị lẳng lặng ngồi đó nước mắt lưng tròng, tiếc nuối. Dị cố sức lăn lại gần hơn, nhưng đành bất lực, bởi con đường dốc gồ ghề, lổm chổm đá đã cản bánh chiếc xe lăn. Không chỉ riêng tôi cảm nhận được điều này, vợ tôi cũng vậy. Bà lẹ làng quay lại ôm lấy Dị, một cử chỉ mà tôi chưa từng thấy trong suốt mấy mươi năm chung sống. Lúc buông nhau ra, Dị mếu máo cười bảo nhà tôi:
- Ôm em bạn, tôi tưởng như được ôm chính Long bạn mình.
Sau vợ tôi, đến lượt tôi đến ôm Dị. Tôi không thể nào diễn đạt hết mọi cảm xúc, chỉ biết: Thái Hữu Dị, là một người bạn bất hạnh, một điển hình của các thương binh Việt Nam Cộng Hòa, hạng người gánh chịu nhiều khổ đau nhất từ cuộc chiến tàn khốc vừa qua.
Mong cho bạn có được sự bình an trong lòng, tôi khuyên Dị và khuyên chính mình:
- Ông hãy nghĩ đến vợ chồng thằng con và tương lai của hai đứa cháu nội, ông sẽ thấy cuộc đời này  vẫn còn rất nhiều ý nghĩa.
Dị gật đầu, nói như than vãn, mỉa mai:
- Thôi cũng đành “Thế Thời Phải Thế”.
 
 
 
Tổng số điểm của bài viết là: 20 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

CHƯƠNG TRÌNH HIẾU DƯỠNG

Tin Mới

Thống Kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 51

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 49


Hôm nayHôm nay : 3160

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 128598

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6324493

Đăng nhập thành viên

Cựu học sinh LASAN Banmêthuột
Email : lasankbuon@gmail.com 
SĐT liên lạc : 0919.589.979